Giá vàng giao ngay thế giới 9h15' ngày 25/6: 152,95 USD/chỉ. Giá vàng 9999 tại Hà Nội 10h20' ngày 25/6 mua: 3.674 nghìn đồng/chỉ, bán: 3.693 nghìn đồng/chỉ. Chỉ số chứng khoán ngày 22/6: VN-Index: 983,17 +13,77 HNX-Index: 111,98 +1,82 Thời gian giao dịch phục vụ khách hàng tại các Chi nhánh, PGD, QTK của VietinBank - Từ thứ 2 tới thứ 6: Từ đầu giờ sáng tới 17h00 (trừ ngày lễ, tết).

Co-opBank: Commencement of system restructuring

Ảnh. (MH)

Hoạt động của hệ thống QTDND ngày càng đi vào ổn định và tăng trưởng bền vững, khẳng định chủ trương củng cố, chấn chỉnh, hoàn thiện và phát triển QTDND là đúng hướng, đáp ứng mục tiêu phát triển loại hình kinh tế hợp tác xã kiểu mới hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng nhằm hỗ trợ phát triển nông nghiệp – nông thôn.

Cần xác lập một trật tự an toàn

Sau 12 năm thực hiện Chỉ thị 57/CT-TW ngày 10/10/2000 của Bộ Chính trị về củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) về cơ bản đã được tái cơ cấu về mô hình. Quá trình hỗ trợ và sàng lọc từ các chính sách của Chính phủ cũng như sự giám sát quản lý của các cấp ủy Đảng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tạo nên một kênh tín dụng hỗ trợ nông nghiệp nông thôn, xóa đói giảm nghèo, xóa cho vay nặng lãi hiệu quả.

Khẳng định được uy tín của hệ thống QTDND đối với cấp uỷ chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư cũng như đối với các tổ chức quốc tế. Song, điểm trong bức tranh tươi sáng ấy, vẫn còn những hạn chế đòi hỏi những sự bứt phá mới trong chính sách quản lý và điều hành hệ thống đã được chỉ ra trong Hội nghị tổng kết Chỉ thị 57/CT-TW và lễ ra mắt hoạt động Ngân hàng Hợp tác.

Theo đó, còn có một bộ phận QTDND ở một số địa phương quán triệt triển khai thực hiện chưa nghiêm túc, chưa bám sát mục tiêu tôn chỉ hoạt động, chấp hành chưa nghiêm túc các quy định về bảo đảm an toàn, tiềm ẩn rủi ro gây ảnh hưởng đến hệ thống QTDND.

Nhiều QTDND chưa nhận thức đầy đủ về tính liên kết hệ thống, còn tư tưởng dựa vào sự hỗ trợ của Nhà nước và của Quỹ tín dụng Trung ương. Hoặc sau giai đoạn đầu thực hiện tương đối nghiêm túc việc củng cố, chấn chỉnh hoạt động, đã phát sinh tư tưởng chủ quan, dẫn đến việc tái phát sinh các vi phạm trong quá trình hoạt động.

Tôn chỉ mục đích của loại hình Tổ chức tín dụng là hợp tác xã và mục tiêu hoạt động hỗ trợ thành viên của một bộ phận QTDND có biểu hiện phát triển chệch hướng xa rời thành viên. Một bộ phận QTDND, nhất là các QTDND có quy mô lớn và địa bàn hoạt động liên xã, liên phường rộng và liên xã phường ở những nơi kinh tế phát triển, có biểu hiện hướng hoạt động của QTDND chạy theo mục tiêu lợi nhuận, thoát ly nguyên tắc hợp tác xã, chỉ chú trọng quan tâm cho vay thương mại mà thiếu quan tâm đến nội dung cơ bản là hỗ trợ thành viên, thiếu chính sách quan tâm đến phúc lợi cộng đồng xã hội khác cho thành viên.

Điều đáng quan tâm là trong đó đã có một số QTDND có tốc độ tăng trưởng nóng và có nguy cơ vượt ngoài tầm quản lý, kiểm soát: Chỉ tính trong số 50 QTDND lớn nhất (chiếm 4,2% tổng số QTDND) nhưng đã chiếm gần 40% tổng nguồn vốn của 1.200 QTDND trong toàn hệ thống (có QTDND hiện nay có tổng nguồn vốn hoạt động lên tới gần 500 tỷ đồng). Mặt khác, tuy mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động nhưng bộ máy quản lý điều hành của các QTDND này lại không theo kịp với yêu cầu phát triển.

Chưa kể, có tình trạng “tạo liên kết” giữa người ở địa phương này đến địa phương khác thành lập QTDND để tranh thủ các cơ chế, chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với loại hình TCTD hợp tác này nhằm mục tiêu kinh doanh là chủ yếu; thậm chí đã xuất hiện có trường hợp cùng lúc góp vốn thành lập nhiều QTDND ở nhiều địa phương khác nhau. Việc quản lý, điều hành, kiểm soát của các QTDND còn nhiều bất cập biểu hiện thiếu tính chuyên nghiệp, quản lý theo kiểu gia đình…

Trong khi đó, hoạt động của Ban kiểm soát chưa phát huy hết vai trò kiểm tra, giám sát, cảnh báo tại chỗ nên không kịp thời phát hiện được sai phạm, yếu kém của QTDND. Tình trạng nói trên cho thấy khả năng tự giám sát và việc giám sát từ bên ngoài đối với hoạt động của các QTDND còn thiếu hiệu quả dẫn đến nguy cơ rủi ro trong hoạt động của hệ thống QTDND.

Tạo bước đột phá

Tái cơ cấu hoạt động hệ thống QTDND và sự ra đời của Ngân hàng Hợp tác không chỉ đáp ứng yêu cầu của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 mà quan trong hơn là xác lập lại trật tự hệ thống với việc tạo lập một ngân hàng hệ thống đủ mạnh trong cả việc hỗ trợ hoạt động và giám sát các QTDND đi đúng mục tiêu tôn chỉ đề ra của mô hình, tiếp tục củng cố chấn chỉnh hệ thống QTDND, thực sự trở thành một mạch máu tín dụng thông suốt và lành mạnh trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống các Tổ chức tín dụng nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu vốn trong khu vực nông thôn trên cơ sở các nguyên tắc tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau nhằm khuyến khích tiết kiệm, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn tiết kiệm của các thành viên để hỗ trợ các nhu cầu về vốn cho sản xuất, kinh doanh, cải thiện đời sống của các thành viên, hướng tới phục vụ người nghèo, người có thu nhập thấp, các doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ.

Nhiều người dân đã thoát nghèo nhờ nguồn vốn của QTDND. Ảnh. (MH)

Góp phần thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ về phát triển nông nghiệp – nông thôn, hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi, đảm bảo an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững; Đồng thời, góp phần thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tập thể, trong đó nòng cốt là các hợp tác xã, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước.

Theo đó, cần có đề án tái cấu trúc hệ thống QTDND, cũng như phương án hoạt động của Ngân hàng Hợp tác trong giai đoạn 2013 – 2015 và đến 2020 nhằm quán triệt và triển khai thực hiện tốt các quy định về tổ chức hoạt động của Ngân hàng Hợp tác với các nội dung mới về Chức năng, Nhiệm vụ và Quyền hạn để có thể phát huy được đầy đủ, chủ động vai trò là Tổ chức đầu mối liên kết của hệ thống, góp phần vào sự phát triển, ổn định và an toàn của hệ thống QTDND;

Đồng thời, xây dựng Ngân hàng Hợp tác đủ mạnh, là đầu mối để phối hợp với các đơn vị chức năng của Ngân hàng Nhà nước trong quản lý hoạt động và hỗ trợ xử lý khó khăn của các QTDND với mục tiêu phát hiện sớm và xử lý nhanh các vấn đề nảy sinh.

Tăng cường năng lực tài chính, cấp đủ vốn điều lệ cho Ngân hàng Hợp tác làm nền tảng cho việc phát triển quy mô, tài chính, năng lực quản trị, điều hành, khả năng công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm để thực sự đóng vai trò là đầu mối điều hòa, cân đối vốn và thực hiện hoạt động ngân hàng đối với các thành viên là QTDND; Từng bước vươn tới phục vụ, hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển chung của các loại hình kinh tế hợp tác khác trên phạm vi toàn quốc.

Bổ sung nguồn nhân lực đủ mạnh, chuyên nghiệp, vừa có trình độ chuyên môn vừa có đạo đức nghề nghiệp để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Ngân hàng Hợp tác tương xứng với Quyền và trách nhiệm của Ngân hàng Hợptác đối với QTDND thành viên đã đươc tăng cường như: kiểm tra, giám sát hoạt động nghiệp vụ, việc thực hiện các quy định về an toàn của QTDND.

Thực thi vai trò kiểm toán, hướng dẫn và hỗ trợ kiểm toán nội bộ của các QTDND thành viên; tham gia ý kiến về nhân sự đối với thành viên HĐQT, Ban Kiểm soát, Giám đốc của QTDND trước khi QTDND bầu, bổ nhiệm các chức danh trên nhằm giúp Ngân hàng Nhà nước lựa chọn chấp thuận nhân sự chủ chốt vừa có đủ tiêu chuẩn trình độ chuyên môn vừa có phẩm chất đạo đức tốt cho các QTDND thành viên.

Ngân hàng Hợp tác xây dựng chiến lược và kế hoạch hướng dẫn, đào tạo nghiệp vụ ngân hàng, công nghệ thông tin, hỗ trợ các hoạt động ngân hàng, điều hoà vốn và quản lý Quỹ tiền gửi điều hòa vốn của hệ thống QTDND, tham gia xử lý đối với QTDND thành viên gặp khó khăn hoặc có dấu hiệu mất an toàn trong hoạt động…); Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và bảo đảm cho hệ thống QTDND phát triển ổn định, an toàn và bền vững.

Bên cạnh đó, là việc đổi mới cơ chế tổ chức và hoạt động của các QTDND, xác định rõ ràng Quyền – Nghĩa vụ của thành viên trong việc xây dựng và phát triển QTDND. Đó là việc xây dựng và ban hành mới Thông tư quy định về tổ chức và hoạt động của QTDND nhằm khắc phục những tồn tại, bất cập và những điểm không phù hợp trong các quy định hiện nay liên quan đến tổ chức, hoạt động của các QTDND theo hướng nâng cao vai trò, trách nhiệm cũng như nghĩa vụ của các thành viên đối với QTDND; phát huy tốt hơn việc kiểm soát tập thể đối với hoạt động của QTDND, tập trung hoạt động của các QTDND vào việc đáp ứng và xử lý tốt nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh của thành viên, tránh xu hướng thương mại hoá trong hoạt động của QTDND.

Vai trò ngân hàng hệ thống sẽ được tăng cường bằng việc đầu tư phát triển công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng nhằm tiến tới cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại cho QTDND. Nâng cao năng lực hoạt động của bản thân Ngân hàng Hợp tác, đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng vững mạnh của toàn bộ hệ thống Tổ chức tín dụng là hợp tác xã trên phạm vi toàn quốc.

Cùng với việc kiện toàn bộ máy hoạt động từ Trụ sở Trung ương đến các Chi nhánh nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, phục vụ các QTDND thành viên, Ngân hàng Hợp tác sẽ mở rộng mạng lưới Chi nhánh Ngân hàng Hợp tác đến các địa phương có nhiều QTDND để tăng khả năng tiếp cận, hỗ trợ và chăm sóc các QTDND thành viên.

Phương thức hoạt động và cơ chế nghiệp vụ của QTDND cũng đang được nghiên cứu đổi mới nhằm hỗ trợ có hiệu quả hơn đối với thành viên với việc nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trên thế giới cũng như trong khu vực về tổ chức và hoạt động của QTDND để từng bước có những cải tiến, thay đổi phương thức trong các hoạt động cho vay, tiết kiệm nhằm đưa hoạt động của QTDND thực sự trở thành một bộ phận trong đời sống hàng ngày của cộng đồng sinh sống trên địa bàn hoặc trong cùng một tổ chức ngành nghề chứ không chỉ là một phương tiện cung cấp tín dụng khi các thành viên có nhu cầu về vốn.

Xem xét điều chỉnh quy định về phương thức cho vay, xét duyệt cho vay của các QTDND còn mang tính thương mại hiện nay theo hướng bảo đảm các khoản vay thực sự được sử dụng đúng mục tiêu hỗ trợ thành viên nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh và cải thiện đời sống; Ngoài ra, đảm bảo khả năng hoàn trả cao hơn, hạn chế tình trạng lạm dụng vay vốn không đúng mục đích từ các QTDND xảy ra trong thời gian qua.

Minh Trí

More