Đổi mới công tác điều hoà vốn tạo sức mạnh liên kết hệ thống

Đổi mới công tác điều hoà vốn tạo sức mạnh liên kết hệ thống

a47
Nguồn vốn hoạt động của các Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) chủ yếu được huy động từ tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác của các đơn vị, tổ chức và cá nhân là thành viên trên địa bàn. Từ nguồn vốn này các QTDND dùng để cho vay đáp ứng nhu cầu về sản xuất, kinh doanh, cải thiện đời sống của các thành viên và các hộ nghèo không phải là thành viên.Các QTDND huy động vốn không đủ để cho vay được vay vốn của chi nhánh Ngân hàng Hợp tác hoặc vay của các tổ chức tín dụng khác (chủ yếu là các ngân hàng thương mại cổ phần). Từ tháng 12/2013 trở về trước, các QTDND tạm thời thừa vốn được đem gửi tại chi nhánh Ngân hàng Hợp tác các tổ chức tín dụng (TCTD) khác. Xoay quanh vấn đề QTDND gửi tiền tạm thời nhàn rỗi, và vay vốn khi thiếu vốn tại các TCTD khác trước đây cũng như giải quyết vấn đề này từ khi Thông tư số 31/2012/TT-NHNN, quy định về Ngân hàng Hợp tác xã (NHHTX) có hiệu lực thi hành.Dưới góc độ các nhà quản lý, điều hành đối với hoạt động của QTDND, chúng ta cùng nhau nhìn nhận, phân tích, đi đến giải pháp giúp các QTDND có nhận thức đầy đủ, khách quan yêu cầu về xây dựng mối liên kết, hỗ trợ, hợp tác cùng phát triển giữa QTDND là thành viên và NHHTX, cũng như việc chấp hành các quy định về gửi tiền, vay vốn của QTDND tại NHHTX theo thông tư số 31 nói trên.

Qua theo dõi, tổng hợp, đặc điểm hoạt động cho vay, thu nợ, nhận tiền gửi của các QTDND có tính thời vụ rất cao. Do yêu cầu về mùa vụ, vật nuôi, cây trồng, đánh bắt hải sản, sản xuất công nghiệp, xuất khẩu… dẫn đến nhu cầu vay vốn, trả nợ, gửi tiền của khách hàng diễn ra theo chu kỳ, mùa vụ. Ở cùng một thời điểm, cùng một tỉnh, thành phố các QTDND ở một số huyện, thị xã có nhu cầu vay vốn cao, lượng tiền gửi tại chỗ không đáp ứng được nhu cầu vay của thành viên. Ngược lại, tại địa phương khác lại thu hút nhiều về tiền gửi dẫn đến thừa vốn. Điều này cũng xảy ra ở tất cả các QTDND tại các vùng, miền trong cả nước.

Thực tế này trong những năm qua nhiều người đặt ra câu hỏi: vậy các QTDND thừa vốn đã đem gửi ở đâu? Hình thức gửi tiền? Lãi suất ra sao? Mức độ an toàn thế nào? Đối với các QTDND thiếu vốn để cho vay thì đi vay ở đâu? Hiệu quả của việc sử dụng nguồn vốn đi vay này? Mức lãi suất?… Câu trả lời và những khuyến nghị về việc QTDND gửi tiền, vay vốn tại các TCTD khác như sau:

1. Tình hình gửi tiền nhàn rỗi của QTDND vào TCTD khác trước khi Ngân hàng Hợp tác xã ra đời (6/2013):

Tổ chức và hoạt động của hệ thống QTDND (bao gồm Quỹ tín dụng nhân dân trung ương và QTDND cơ sở) được thực hiện tại Nghị định số 48/2001/NĐ-CP ngày 13/8/2001 của Chính phủ (NĐ 48); Nghị định số 69/2005/ NĐ-CP ngày 26/5/2005 của Chính phủ (sửa đổi bổ sung NĐ 48); các Thông tư hướng dẫn số 08/2005/TT-NHNN ngày 30/12/2005, Thông tư số 06/2007/TT-NHNN (sửa đổi bổ sung Thông tư số 08) của Ngân hàng nhà nước, theo đó quy định:

– QTDND cơ sở được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng nhà nước, Quỹ tín dụng Trung ương và các TCTD; QTDND cơ sở được vay vốn của Quỹ tín dụng Trung ương., vay vốn của các TCTD (ngoài hệ thống QTDND).

– Quỹ tín dụng Trung ương được nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và TCTD khác, cho vay vốn nhằm hỗ trợ, nâng cao hiệu quả hoạt động của các QTDND cơ sở thành viên.

Với các quy định đó, việc gửi tiền và vay vốn của QTDND là “tùy nghi” không được tập trung về một mối là Quỹ tín dụng Trung ương để thực hiện điều hòa vốn giữa nơi thừa vốn và nơi thiếu vốn trong hệ thống. Quỹ tín dụng Trung ương được thành lập với mục đích hỗ trợ và nâng cao hiệu quả hoạt động của cả hệ thống QTDND. Nhưng do nhận thức về liên kết hệ thống còn mờ nhạt, chạy theo lợi nhuận trước mắt, một số QTDND khi thừa vốn đã đem gửi tiền tại các TCTD khác (thường là các Ngân hàng thương mại cổ phần) dưới các hình thức gửi tiền có kỳ hạn, đứng tên cá nhân gửi tiền tiết kiệm. Việc làm này đã gây ra những tiêu cực nhất định mà Ngân hàng nhà nước và các cơ quan pháp luật phải đứng ra xử lý, đó là:

– QTDND gửi tiền có kỳ hạn, khi Quỹ có nhu cầu rút tiền trước hạn ngoài việc phải hưởng lãi suất không kỳ hạn, TCTD nhận tiền gửi thường gây khó khăn bằng cách khất, hoãn việc chi trả. Trường hợp khác khi TCTD mất khả năng thanh toán, đã xảy ra khiếu kiện, tranh chấp, gây khó khăn về tài chính của các QTDND. Đôi khi QTDND thành chủ nợ bất đắc dĩ của TCTD khi TCTD bị kiểm soát đặc biệt.

– Cán bộ QTDND đứng tên cá nhân để gửi tiền đã thỏa thuận với nơi nhận tiền gửi về mức lãi suất thực tế và lãi suất trên hợp đồng tiền gửi để lấy phần chênh lệch, chiếm đoạt số tiền gửi tiết kiệm…

Qua tổng hợp, có những thời điểm hàng ngàn tỷ đồng của QTDND được đem gửi tại các TCTD khác. Riêng cuối tháng 8/2011, các QTDND tỉnh An Giang có số dư tiền gửi tại các TCTD khác trên địa bàn khoảng 350 tỷ đồng. Trong khi đó, Quỹ tín dụng Trung ương Chi nhánh An Giang phải nhận vốn điều hòa từ Hội sở Trung ương để có vốn cho vay điều hòa các QTDND thiếu vốn.

Việc QTDND vay vốn tại các TCTD khác khi thiếu vốn cũng là vấn đề cần bàn đến. Để lôi kéo khách hàng, một số TCTD khác đã sử dụng các hình thức cạnh tranh không lành mạnh như: hạ lãi xuất cho vay, tặng quà cho cá nhân, cho vay không cần thế chấp tài sản… Do thủ tục cho vay chưa chặt chẽ và chưa nghiêm túc trong việc thực hiện các quy định của nhà nước, một số cán bộ QTDND đã lợi dụng đứng tên QTDND để vay vốn sử dụng cho cá nhân, vay ké… tuy nhiên không trả được nợ. Ngoài ra, còn có trường hợp QTDND khi cho vay vốn, do không kiểm tra, giám sát chặt chẽ khách hàng vay vốn dẫn đến cho vay sai đối tượng, sử dụng vốn sai mục đích, ảnh hưởng xấu đến hoạt động của QTDND.

Quỹ tín dụng Trung ương với vai trò là đầu mối huy động vốn nhàn rỗi từ các QTDND, các nguồn vốn khác, kể cả vay từ Ngân hàng nhà nước và các tổ chức tài chính quốc tế nhằm đáp ứng tối đa yêu cầu điều hòa vốn trong cả hệ thống QTDND. Thế nhưng có những thời điểm nhu cầu vay vốn của QTDND tăng cao, dù đã rất cố gắng huy động các nguồn vốn, Quỹ tín dụng Trung ương vẫn không đủ nguồn vốn để điều hòa vốn cho các QTDND cơ sở. Đây là hệ quả về sự bất cập của cơ chế ,cần thiết phải được điều chỉnh cho phù hợp hơn để thực hiện liên kết hệ thống, hạn chế những rủi ro.

2. Quy định của pháp luật về QTDND gửi tiền vào Ngân hàng Hợp tác xã.

Ngày 26/11/2012, Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành Thông tư số 31/2012/TT-NHNN quy định về NHHTX. Tại khoản 2 điều 41 Thông tư này quy định:

Vốn nhàn rỗi của QTDND thành viên phải gửi vào tài khoản tiền gửi điều hòa vốn tại Ngân hàng Hợp tác xã và được duy trì ở mức tối thiểu do Đại hội thành viên Ngân hàng Hợp tác xã quy định; QTDND thành viên được NHHTX cho vay điều hòa vốn khi có nhu cầu hoặc khó khăn tạm thời về thanh khoản; Cơ chế lãi suất tiền gửi và tiền vay điều hòa vốn rõ ràng, minh bạch; đảm bảo tính tương trợ giữa các thành viên trong hệ thống, góp phần tăng cường tính liên kết, an toàn hệ thống. Hoạt động điều hòa vốn của NHHTX là một nội dung liên kết mạnh mẽ.

Chính vì những tôn chỉ và mục đích như vậy NHHTX đã và đang huy động tối đa các nguồn lực về tài chính, phát triển và ứng dụng các sản phẩm dịch vụ mới, xây dựng các cơ chế, chính sách về điều hòa vốn, phù hợp với thực tế hoạt động và yêu cầu phát triển của các QTDND theo hướng liên kết, tương trợ trong hệ thống, kịp thời, hiệu quả, an toàn. Như vậy, kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành tất cả các khoản tiền nhàn rỗi của QTDND phải được gửi vào NHHTX để thực hiện công tác điều hòa vốn.

Đây vừa là quy định vừa là chủ trương đúng đắn của NHNN nhằm tăng cường tính liên kết hệ thống, giúp các QTDND khắc phục những tồn tại như vừa qua.

3. Những lợi ích thiết thực khi QTDND gửi tiền và vay vốn tại Ngân hàng Hợp tác xã.

Thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên là QTDND, NHHTX luôn chú trọng và tạo điều kiện thuận lợi để các QTDND gửi vốn và vay vốn tại NHHTX được tiện lợi, nhanh chóng, có những ưu đãi về tài chính, thể hiện như: Các chi nhánh NHHTX bố trí cán bộ nhận tiền và chi trả kịp thời vào tất cả các ngày trong tuần theo yêu cầu của các QTDND. Với khối lượng tiền mặt lớn, NHHTX có thể bố trí phương tiện nhận tiền gửi và chi trả tại các QTDND.

+ Lãi suất tiền gửi theo lãi suất thi trường, cộng thêm một số chi phí khác (vận chuyển, đóng gói cao hơn mức lãi suất huy động của QTDND để đảm bảo cao hơn mặt bằng lãi suất ở cùng thời điểm; Ưu tiên chi trả đối với các QTDND có khó khăn tạm thời về thanh khoản.

– Đối với cho vay và thu nợ NHHTX tạo điều kiện đáp ứng tối đa nhu cầu vay vốn hợp lý của các QTDND ở mọi thời điểm, tích cực khai thác các nguồn vốn tài trợ trong nước và nước ngoài với lãi suất phù hợp (nhất là các dự án về phát triển nông nghiệp nông thôn);

Tư vấn, hỗ trợ các QTDND trong việc lựa chọn đối tượng cho vay, thời hạn, mức lãi suất cho vay, tài sản thế chấp, phương thức thu nợ gốc, lãi giúp các QTDND cho vay được hiệu quả, an toàn; Thời hạn, phương thức cho vay linh hoạt, phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn và theo đề nghị của QTDND. Tùy theo tính chất nguồn vốn hiện có NHHTX quy định mức lãi suất phù hợp theo hướng thấp hơn mức lãi suất thị trường ở cùng thời điểm. Cho vay không cần tài sản thế chấp…

4. Chung tay xây dựng hệ thống các TCTD là Hợp tác xã phát triển bền vững, an toàn, hiệu quả.

Cùng với quyền hạn và trách nhiệm khác của NHHTX đối với QTDND như: Thực hiện kiểm toán; hướng dẫn và hỗ trợ kiểm toán nội bộ; tham gia ý kiến về phương án nhân sự; hướng dẫn, đào tạo nghiệp vụ ngân hàng, công nghệ thông tin; hỗ trợ hoạt động ngân hàng… đối với các QTDND. Việc quản lý tiền gửi và cho vay đối với QTDND là nhiệm vụ trọng tâm, chủ yếu của NHHTX trong quá trình hoạt động.

Trên cơ sở quy chế điều hòa vốn trong hệ thống, với tiềm lực tài chính ngày càng lớn mạnh và vững chắc, cùng với sự hợp tác chặt chẽ của các QTDND thành viên, NHHTX sẽ tiếp tục là trung tâm điều hòa vốn của hệ thống với mục tiêu cùng phát triển, an toàn và hiệu quả. Đóng góp tích cực vào sự ổn định và phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là yêu cầu về phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thời gian tới.

Bùi Trọng Liên – Thành viên BKS Ngân hàng Hợp tác

Tin Liên Quan