Ngân hàng Hợp tác – chặng đường sau gần 5 năm chuyển đổi mô hình hoạt động

Trần Quang Khánh

Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Hợp tác

image001Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam, tiền thân là Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương được thành lập ngày 05/08/1995 và được chuyển đổi sang thành Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Ngân hàng Hợp tác) vào tháng 7/2013 theo giấy phép số 166/GP-NHNN ngày 04/06/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Sau 5 năm thực hiện Thông tư số 31/TT-NHNN ngày 26/11/2012 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) “Quy định về Ngân hàng Hợp tác xã” và 3 năm thực hiện Quyết định số 55/QĐ-NHNN.m ngày 05/11/2014 về việc “Phê duyệt phương án tái cơ cấu Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam”, đến nay có thể nói Ngân hàng Hợp tác đã có sự chuyển biến toàn diện về tổ chức, hoạt động, năng lực tài chính, trình độ quản trị, hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin… và đặc biệt đã thực hiện tốt vai trò là ngân hàng đầu mối hỗ trợ hệ thống QTDND phát triển ổn định, an toàn và bền vững; Cụ thể như sau:

Thực hiện tái cơ cấu thành công theo hướng phát triển thành “Ngân hàng hiện đại”.

Sau khi chuyển đổi mô hình hoạt động đến nay, Ngân hàng Hợp tác đã thực hiện thành công phương án tái cơ cấu theo tinh thần Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt Đề án tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015” và Quyết định số 55/QĐ-NHNN.m ngày 05/11/2014 về việc “Phê duyệt phương án tái cơ cấu Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam”.

Về nguồn vốn, Ngân hàng Hợp tác đã được cấp bổ sung 948 tỷ đồng, nâng vốn điều lệ của Ngân hàng Hợp tác lên 3.000 tỷ đồng, đủ mức vốn pháp định theo quy định của pháp luật. Với nguồn vốn điều lệ được bổ sung, Ngân hàng Hợp tác đã có điều kiện mua và xây dựng hoàn thiện trụ sở mới với diện tích hơn 5.000m tại tòa nhà N04 Hoàng Đạo Thúy, Cầu Giấy, Hà Nội. Trụ sở mới của Ngân hàng Hợp tác được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất hiện đại, đảm bảo phục vụ việc quản trị, điều hành kịp thời và thông suốt, hệ thống mạng lưới ngày càng mở rộng với 32 Chi nhánh (05 chi nhánh mới thành lập là Yên Bái, Bắc Giang, Hà Tĩnh, Gia Lai, Tây Ninh vào cuối năm 2017), 63 Phòng giao dịch trực thuộc phục vụ cho 1.177 QTDND tại 57/63 tỉnh, thành phố với 1.858.273 thành viên là các hộ gia đình chủ yếu ở khu vực nông nghiệp – nông thôn. Tính đến 30/09/2017 tổng nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng Hợp tác là 27.222 tỷ đồng; trong đó dư nợ cho vay là 18.067 tỷ đồng; nguồn vốn chủ sở hữu đạt 3.716 tỷ đồng (vốn điều lệ là 3.026 tỷ đồng).

Về quản trị điều hành, sau khi chuyển đổi mô hình hoạt động, Ngân hàng Hợp tác đã kiện toàn xây dựng bộ máy tổ chức từ trụ sở chính đến các chi nhánh theo hướng tinh gọn, hiện đại và chuyên nghiệp, đảm bảo khả năng thực hiện nhiệm vụ điều hòa, cân đối vốn và hỗ trợ cho hệ thống QTDND hoạt động ổn định và tiếp tục phát triển an toàn, bền vững; Đồng thời đáp ứng yêu cầu trở thành một Ngân hàng hiện đại cả về năng lực công nghệ, sản phẩm dịch vụ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Cùng với đó Ngân hàng Hợp tác cũng đã rà soát, chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện và ban hành mới hệ thống gần 300 văn bản quản trị điều hành và nghiệp vụ chuyên môn phục vụ cho việc vận hành hoạt động của Ngân hàng Hợp tác.

Về phát triển công nghệ thông tin và sản phẩm dịch vụ mới, ngay sau khi chuyển đổi mô hình hoạt động, Ngân hàng Hợp tác đã xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển công nghệ thông tin; đồng thời khẩn trương triển khai thực hiện, cụ thể như: Triển khai đưa vào vận hành trung tâm dữ liệu tập trung tại Hưng Yên; trung tâm dự phòng, mạng truyền thông, hệ thống an toàn bảo mật giao dịch điện tử; triển khai xây dựng hệ thống ngân hàng lõi (Corebanking)…; Hệ thống thông tin, dữ liệu điện tử của Ngân hàng Hợp tác đã được tin học hóa, kết nối toàn hệ thống Ngân hàng Hợp tác và các QTDND đảm bảo cung cấp số liệu chính xác, kịp thời trong toàn hệ thống; Trung tâm dữ liệu và hệ thống Hội nghị trực tuyến được đưa vào sử dụng phục vụ cho công tác quản trị điều hành; Hiện nay đang triển khai áp dụng thí điểm hệ thống ngân hàng lõi (corebanking) tại Ngân hàng Hợp tác chi nhánh Yên Bái và Bắc Giang, sau khi hoàn thành thí điểm sẽ triển khai trong toàn hệ thống Ngân hàng hợp tác bao gồm 32 chi nhánh và gần 70 phòng giao dịch. Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại như thanh toán chuyển tiền điện tử, thẻ thanh toán nội địa ATM… nhằm hướng tới cung cấp phục vụ cho các QTDND thành viên và thành viên QTDND cũng như người dân ở khu vực nông thôn cũng được nghiên cứu triển khai. Hiện nay thẻ thanh toán của Ngân hàng Hợp tác được chấp nhận rộng rãi trên hơn 14.000 ATM và hệ thống POS của các ngân hàng trên toàn quốc; Đồng thời Ngân hàng Hợp tác đang tiếp tục triển khai nâng cấp hệ thống để đưa thêm các tiện ích thẻ mới tới khách hàng như: chuyển tiền liên ngân hàng qua ATM, đổi mã PIN thẻ tại các ATM thuộc NAPAS, tiếp tục khai thác và phát triển các dịch vụ ngân hàng mới trên cơ sở hệ thống ngân hàng lõi (Corebanking) giúp mở rộng tiện ích thẻ, hỗ trợ khách hàng trong thanh toán, tiếp cận dịch vụ ngân hàng; đồng thời triển khai thí điểm việc phát hành thẻ ra khách hàng là thành viên tại các QTDND đã tham gia liên kết, tiến tới triển khai sản phẩm thẻ thành viên đồng thời là thẻ ghi nợ nội địa tới các QTDND nhằm thực hiện được mục tiêu là phát triển thành một ngân hàng đa năng hiện đại làm tốt vai trò đầu mối của hệ thống QTDND.

Thực hiện tốt vai trò là “Ngân hàng của tất cả các QTDND”.

 Ngay sau khi chuyển đổi thành công mô hình tổ chức hoạt động từ 01/07/2013, Ngân hàng hợp tác đã xây dựng và ban hành hệ thống các Quy chế, quy trình quản lý nội bộ đồng bộ nhằm đảm bảo cho công tác quản trị điều hành được thông suốt trong toàn hệ thống; trong đó đặc biệt là quy định nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các QTDND thông qua việc ban hành Quy chế điều hòa vốn số 177/QC/HĐQT-NHHT và số 717/QC/HĐQT-NHHT về sửa đổi, bổ sung một số điều tại văn bản số 177/QC/HĐQT-NHHT, tạo điều kiện điều hòa vốn thông suốt, thuận lợi, linh hoạt và kịp thời đối với toàn bộ hệ thống QTDND trên phạm vi toàn quốc. Cùng với đó Ngân hàng Hợp tác đã xây dựng các sản phẩm huy động, cho vay với nhiều loại kỳ hạn linh hoạt và mức lãi suất ưu đãi cho từng kỳ hạn theo nguyên tắc lãi suất huy động vốn từ QTDND thành viên luôn cao hơn mức lãi suất huy động của dân cư và các tổ chức kinh tế cùng kỳ hạn huy động, đồng thời lãi suất cho vay QTDND thành viên luôn thấp hơn lãi suất cho vay khách hàng ngoài hệ thống có cùng kỳ hạn. Để thực hiện tốt vai trò “là Ngân hàng của tất cả các QTDND”, Ngân hàng Hợp tác đã phát triển và cung ứng nhiều sản phẩm cho vay đáp ứng nhu cầu vốn và đa dạng hóa các hình thức cho vay đối với QTDND như: cho vay mở rộng tín dụng, cho vay dự án liên kết phát triển nông nghiệp-nông thôn, cho vay giáo viên, cho vay hợp vốn, cho vay đồng tài trợ giữa Ngân hàng Hợp tác và các QTDND…Đặc biệtNgânhàng Hợp tác luôn quan tâm, giải quyết kịp thời cho vay hỗ trợ khả năng chi trả tiền gửi đối với những QTDND gặp khó khăn về thanh khoản; đồng thời phối hợp cùng Chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố đề xuất biện pháp xử lý và hỗ trợ cho vay chi trả tiền gửi cho các QTDND gặp khó khăn, góp phần giúp cho nhiều QTDND khắc phục khó khăn, trở lại hoạt động bình thường. Ngoài các hoạt động điều hòa vốn Ngân hàng Hợp tác còn cho vay từ nguồn vốn của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND đối với các QTDND yếu kém, gặp khó khăn về khả năng chi trả và khó khăn tài chính… (với số vốn lên tới 34.950 triệu đồng) để khắc phục trở lại hoạt động bình thường; đến nay về cơ bản một số QTDND được hỗ trợ đã dần hoạt động ổn định, qua đó góp phần hỗ trợ bảo đảm an toàn cho hoạt động của hệ thống QTDND.

Với vai trò là “Ngân hàng của tất cả các QTDND”, Ngân hàng Hợp tác không chỉ thực hiện hoạt động điều hòa vốn, cho vay thuần túy mà còn triển khai các hoạt động hỗ trợ cho sự phát triển an toàn, bền vững của các QTDND thông qua việc triển khai nhiều khóa đào tạo nghiệp vụ nhằm giúp các QTDND từng bước tiếp cận với các nghiệp vụ Ngân hàng hiện đại, các khóa học chuyên đề như: pháp luật trong kinh doanh, thẩm định tín dụng, quản trị rủi ro, phân tích tài chính… bổ sung cập nhật thông tin, kiến thức chuyên ngành cho các cán bộ đang làm việc tại các QTDND như chương trình đào tạo trong khuôn khổ dự án hỗ trợ cho vay khu vực kinh tế tư nhân do AFD tài trợ gồm 03 môn học: Quản trị rủi ro, phân tích tài chính và thẩm định tín dụng với gần 1.000 học viên là cán bộ quản lý, điều hành của các QTDND trên khắp cả nước. Cùng với đó Ngân hàng Hợp tác còn tích cực phối hợp với các tổ chức quốc tế để xây dựng và triển khai các dự án tài chính và các dự án hỗ trợ kỹ thuật nhằm khai thác nguồn vốn đầu tư trung và dài hạn cho hệ thống QTDND (thời điểm cao nhất dư nợ cho vay từ nguồn vốn này lên tới 2.000 tỷ đồng) cũng như nâng cao năng lực thể chế và kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ Ngân hàng Hợp tác và cán bộ của các QTDND. Đặc biệt hiện nay Ngân hàng Hợp tác đang phối hợp với cơ quan Phát triển Quốc tế của tập đoàn Desjardins Canada (DID) triển khai dự án hỗ trợ kỹ thuật “Đẩy mạnh các hoạt động của  Ngân hàng Hợp tác và hệ thống QTDND” được chính phủ Canada tài trợ 18,1 triệu đôla Canada trong giai đoạn 2017-2021 nhằm đưa hoạt động của Ngân hàng Hợp tác và hệ thống QTDND lên một tầm cao mới.

Để nâng cao sức cạnh tranh cho hệ thống QTDND, Ngân hàng Hợp tác đã xây dựng dự án hệ thống thanh toán ngân hàng điện tử (gọi tắt là CF-ebank) nhằm cung cấp cho các QTDND và khách hàng thành viên các dịch vụ điều hòa vốn, thanh toán chuyển tiền trong nước, thanh toán chuyển khoản, thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ và các giá trị gia tăng khác… Cho đến nay, Ngân hàng Hợp tác đã đào tạo nghiệp vụ chuyển tiền CF-ebank cho hơn 1.400 học viên là lãnh đạo và cán bộ của 557 QTDND trên phạm vi 47 tỉnh, thành phố với 438 QTDND là thành viên chính thức tham gia kết nối thanh toán; hiện tại mạng lưới thanh toán của hệ thống CF-ebank có 531 điểm, gồm 30 chi nhánh, 63 phòng giao dịch và 438 QTDND. Dịch vụ thanh toán Ngân hàng điện tử đã mang lại nhiều lợi ích đối với hệ thống QTDND và thành viên của hệ thống: đáp ứng nhu cầu thanh toán, chuyển tiền gửi, tiền vay điều hòa giữa các QTDND với Ngân hàng Hợp tác, tạo điều kiện để các QTDND và thành viên QTDND được sử dụng các sản phẩm, dịch vụ đa dạng với mức chi phí thấp, tạo sự gần gũi, gắn bó hơn giữa thành viên với các QTDND, tạo thêm nguồn thu dịch vụ, thúc đẩy quy mô hoạt động, nâng cao uy tín của QTDND trên địa bàn. Thông qua việc kết nối, sử dụng các dịch vụ của hệ thống CF-ebank, thời gian tác nghiệp của QTDND được thực hiện nhanh chóng thuận tiện hơn, giảm bớt các chi phí hoạt động, nâng cao tính liên kết và khai thác thế mạnh mạng lưới QTDND trên phạm vi toàn quốc. Việc mở rộng phát triển cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử của hệ thống QTDND đến thành viên và người dân tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa góp phần tích cực vào việc thực hiện đề án thanh toán không dùng tiền mặt của chính phủ và chỉ đạo của NHNN Việt Nam về phát triển sản phẩm, dịch vụ thanh toán đối với khu vực nông nghiệp-nông thôn.

Một số khó khăn thách thức và định hướng hoạt động của Ngân hàng Hợp tác đến năm 2020.

Sau gần 5 năm chuyển đổi mô hình hoạt động, có thể nói Ngân hàng Hợp tác đã đạt được những thành công bước đầu, đó là từng bước hoàn thiện và phát triển thành Ngân hàng hiện đại, hoàn thành nhiệm vụ, vai trò là ngân hàng đầu mối hỗ trợ các QTDND; tuy nhiên trong quá trình thực hiện, đến nay vẫn còn tồn tại một số khó khăn, hạn chế làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình hoạt động và phát triển của Ngân hàng Hợp tác và đặc biệt là những khó khăn trong việc thực hiện vai trò là “Ngân hàng đầu mối của các QTDND”, cụ thể như sau:

Hiện nay hệ thống mạng lưới của các QTDND rất lớn, với số lượng 1.177 QTDND đang hoạt động trải rộng tại 57/63 tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước (dự kiến đến năm 2020 có thể phát triển đạt tới 1300 QTDND), trong khi đó mạng lưới Chi nhánh và Phòng giao dịch của Ngân hàng Hợp tác còn mỏng (mới có 32 Chi nhánh và 63 Phòng giao dịch), vẫn còn một số Chi nhánh phải thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, hỗ trợ, điều hòa vốn cho các QTDND trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố, địa bàn phụ trách rất rộng, đi lại giao dịch rất khó nên đã làm hạn chế việc tiếp cận hỗ trợ kịp thời cho các QTDND thành viên.

Trong quá trình hoạt động, một số QTDND lâm vào tình trạng khó khăn thanh khoản, tuy nhiên do năng lực tài chính còn hạn chế, đồng thời do chưa có cơ chế hỗ trợ xử lý rủi ro nên Ngân hàng Hợp tác cũng chưa thể chủ động cho vay hỗ trợ các QTDND thiếu khả năng chi trả nhưng có nguy cơ rủi ro cao; Đặc biệt là một số QTDND do nguyên nhân rủi ro đạo đức dẫn đến thất thoát tài sản, hiện đang bị Ngân hàng Nhà nước đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, thậm chí lâm vào tình trạng phá sản, thì nguồn vốn vay của Ngân hàng Hợp tác đối với các QTDND này rất khó thu hồi, đây là áp lực ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả hoạt động của Ngân hàng Hợp tác.

Việc phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Hợp tác hiện nay mới chủ yếu tập trung trong lĩnh vực huy động để cho vay và bước đầu phát triển sản phẩm dịch vụ thanh toán, thẻ; Mặt khác do năng lực tài chính của Ngân hàng Hợp tác còn hạn chế và tính chất, mục tiêu hoạt động chủ yếu nhằm hỗ trợ các QTDND thành viên dẫn đến lợi nhuận thấp nên khả năng tái đầu tư, mở rộng áp dụng khoa học công nghệ vào hoạt động và quản trị điều hành còn hạn chế; việc áp dụng công nghệ ngân hàng hiện đại trong hoạt động tuy đã được quan tâm phát triển trong một số năm gần đây nhưng so với mặt bằng chung của các Ngân hàng thương mại và yêu cầu đáp ứng phát triển của hệ thống trong giai đoạn mới thì vẫn còn hạn chế.

Một số QTDND chưa nghiêm túc thực hiện việc gửi báo cáo cho Ngân hàng Hợp tác theo quy định tại Thông tư 31/2012/TT-NHNN, trong khi đó Ngân hàng Hợp tác lại chỉ biết thông tin về hoạt động của QTDND qua công tác kiểm tra sử dụng vốn (đối với các QTDND có vay vốn của Ngân hàng Hợp tác); đồng thời không được kiểm tra các mặt hoạt động nghiệp vụ khác nên khó phát hiện sai phạm trong hoạt động của các QTDND, gây khó khăn cho Ngân hàng Hợp tác trong việc tổng hợp số liệu nắm bắt tình hình hoạt động của các QTDND thành viên nhằm tư vấn, khuyến nghị kịp thời cho các QTDND cũng như cảnh báo sớm các rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động của cả hệ thống QTDND.

Ý thức xây dựng mối liên kết hệ thống của một bộ phận QTDND chưa tốt, khi thừa vốn thì đem gửi các NHTM trên địa bàn để hưởng lãi suất cao, khuyến mại (đặc biệt đây là một trong những nguyên nhân dễ gây ra rủi ro cá nhân cán bộ chủ chốt chiếm đoạt tài sản gây mất an toàn cho hoạt động của QTDND), khi thiếu vốn do không chủ động dự trữ thanh khoản thì quay trở lại vay Ngân hàng Hợp tác; Nhiều QTDND chưa tuân thủ quy định của NHNN về các tỷ lệ an toàn vốn trong hoạt động, nhất là thời điểm khó khăn về huy động vốn, sử dụng hết nguồn vốn để cho vay, khi có khó khăn về thanh khoản thì lại yêu cầu Ngân hàng Hợp tác cung ứng vốn. Điều đó dẫn đến tạo sức ép về vốn cho Ngân hàng Hợp tác khi vừa phải đảm bảo khả năng chi trả của bản thân, vừa phải đảm bảo thanh khoản cho cả hệ thống QTDND, đặc biệt là trong những thời điểm nhu cầu thanh khoản trong toàn hệ thống ngân hàng lên cao.

Để thực sự trở thành “Ngân hàng của tất cả các QTDND”, từ nay đến năm 2020 Ngân hàng Hợp tác sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc triển khai thực hiện Đề án cơ cấu lại TCTD gắn với xử lý nợ xấu đến năm 2020 của Thống đốc NHNN Việt Nam; Theo đó, cùng với việc tập trung xử lý nợ xấu, Ngân hàng Hợp tác tiếp tục việc tái cơ cấu theo hướng hoàn thiện và phát triển thành Ngân hàng đủ mạnh về quy mô, năng lực tài chính, trình độ quản trị, công nghệ để thực sự đóng vai trò làm đầu mối điều hòa, cân đối vốn trong hệ thống QTDND và có khả năng chăm sóc, hỗ trợ có hiệu quả cho các QTDND về chuyên môn nghiệp vụ, vốn và tài chính; đồng thời tiếp tục mở rộng mạng lưới chi nhánh của Ngân hàng Hợp tác đến các địa phương có nhiều QTDND để tăng khả năng tiếp cận, hỗ trợ và chăm sóc, thúc đẩy hệ thống QTDND lớn mạnh, phát triển an toàn bền vững và trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống các TCTD Việt Nam, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn phát triển sự nghiệp nông nghiệp – nông thôn, hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi, đảm bảo an sinh xã hội và xoá đói giảm nghèo; đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tập thể, nông nghiệp – nông thôn theo chủ trương của Đảng và Nhà nước.

Tin Liên Quan